Thứ Ba, 2 tháng 9, 2014
Nét văn hóa độc đáo của thổ cẩm
Không chỉ giỏi dệt vải, người Mông còn có kỹ thuật nhuộm chàm khó ai sánh được. Chàm là loại hóa phẩm thiên nhiên được nhiều dân tộc sử dụng trong việc nhuộm hấp vải, sợi. Ở vùng núi phía Bắc có rất nhiều giống chàm thuộc họ khác nhau và mỗi dân tộc, mỗi vùng lại quen trồng và sử dụng một loại cây hợp với nhu cầu thẩm mỹ truyền thống của mình. Vải sau khi nhuộm sẽ được dùng để may trang phục cho người Mông hoặc bán cho khách du lịch. Với người Mông, cây chàm (tsaoz gang) mà họ chọn thuộc loại thân cây gỗ, được nhân giống bằng phương pháp giâm cành. Cây chàm không kén đất, bởi thế nó có thể trồng được ở nhiều nơi như vườn gần nhà, trên các mảnh nương, hay xung quanh hàng rào của mỗi gia đình. Chuẩn bị chàm để nhuộm là công việc vất vả, mất nhiều thời gian và đòi hỏi tính nhẫn nại cao. Khi thu hoạch, chi tiết tham khảo người Mông lựa ra một số cành đem giâm ở nơi đất ẩm, để làm giống cho vụ sau. Tất thân và lá chàm còn lại được đem ngâm nước trong các thùng gỗ ghép lớn. Chờ cho thân cây và lá chàm mục, nhựa chàm (plêgăngx) tan hết vào trong nước (theo những người nhuộm chàm có kinh nghiệm ở Sa Pa thì thường sau khoảng 2 - 3 ngày, khi thấy nước ngâm chuyển sang màu xanh lá cây rất trong, hiếm có sủi bọt), người Mông mới vớt bã ra và cho vôi vào quấy đều lên. Khi dung dịch chàm vôi lắng xuống đáy thùng, người Mông chắt hết nước đi và dùng vải dày lọc khô thành cao chàm. Người Mông có kỹ thuật nhuộm chàm rất độc đáo. Thứ cao này đặc quánh, dành để dùng quanh năm, khi nào muốn nhuộm chàm thì chỉ cần lấy một ít cao chàm pha thêm chút rượu, rồi cho vào thùng quấy đều, đến lúc sủi bọt là có thể dùng được. Chỉ riêng kỹ thuật đốt vôi để lắng đọng nhựa chàm cũng đã là một nghệ thuật của người Mông, mà không mấy dân tộc nào có thể làm được. Từ việc chọn nguồn đá, đập đá, đào lò, đốt vôi, pha vôi... Tất đều được tiến hành một cách kĩ càng và theo những nguyên tắc đã được lưu giữ từ nhiều đời nay. Đó không chỉ là những kinh nghiệm được đúc kết trong quá trình sinh sản, mà còn là những lễ nghi mang nặng tính tâm linh. Phải chọn những nhũ đá hoặc tảng đá vôi xốp lỗ chỗ để có vôi chất lượng cao, phải chọn cành củi cứng để có nhiệt độ cao, còn xếp đá phải xếp những khối đá tảng phía đáy lò trước khi xếp những hòn đá nhỏ lên trên để bảo đảm thông khí cho vôi chín đều hơn... Mảnh vải được nhuộm đi nhuộm lại nhiều lần, trong nhiều ngày. Trong thời gian làm vôi, những người tham dự phải kiêng không được quan hệ vợ chồng. Đặc biệt, phải cẩn trọng để tai nạn lao động không được phép xảy ra, không được để dính bất kỳ giọt máu nào vào các dụng cụ, dù đó là máu do vắt cắn hay là muỗi đốt, vì đồng bào Mông quan niệm nếu giây bất kỳ một giọt máu nào trong quá trình đốt vôi thì cả lò vôi sẽ không chín. Những người đàn bà mang thai tuyệt đối không được dự quá trình đốt vôi này. “Một thùng nước chàm nhuộm phải là một thùng nước sống, không đơn thuần chỉ là một thùng nước có màu chàm là được. Ngay trong dân tộc Mông cũng có những người cả đời khóc thầm lặng lẽ vì không biết dựng thùng chàm, nên màu áo của họ lúc nào cũng như màu lông quạ chết, khi chưng diện bộ đồ đó đi hội thường chỉ bằng mặt, nhưng trong lòng vẫn nao nao thiếu thốn chỉ vì bộ đồ không được như ý”, một nghệ nhân Mông san sớt. Thời gian ngâm cho vải lên nước đen bóng phụ thuộc nhiều vào thời tiết. Để có được một thùng nước chàm sống, đầu tiên người ta phải ủ lá ngải cứu với tro bếp, sau đó cho vào một cái rá lớn có trải một vài lớp vải lanh ở dưới đáy. Rá đựng tro và lá ngải cứu này được đặt cẩn thận trên miệng một đọc thêm thùng gỗ lớn hình tang trống, được ghép tinh tướng đến mức có thể đựng nước hàng năm cũng không hề bị rò rỉ... Tùy thuộc vào số lượng vải cần nhuộm, người ta lấy nước từ những khe núi trên cao trong vắt, lọc qua rá đựng tro và ngải cứu chảy vào thùng, trộn cao chàm với một ít rượu, bóp nhỏ và hòa vào thùng nước, sau đó khuấy thật mạnh dần từ đáy thùng, cho đến khi thùng nước mới sủi đầy bọt thì đậy lại. Cứ đều đặn mỗi ngày, lúc sáng sớm tờ mờ và lúc màng tang xế bóng, thùng chàm lại được mở ra và tiếp quấy đều. Chỉ sau mấy ngày, thì cả thùng nước chàm đã dậy lên một mùi thơm dễ chịu. Để biết có phải thùng nước chàm đã sống rồi hay chưa chỉ cần múc một lượng nước chàm nhỏ trong thùng soi lên ánh sáng, nếu thấy có độ vàng trong và bọt sủi đều thì nước chàm đã sống và có thể bắt đầu dùng để nhuộm. Những mảnh vải của người Mông luôn giữ được vẻ tươi mới do cách nhuộm rất cầu kỳ. Cuộc sống gần gũi, hòa quyện với không gian bát ngát của đất trời đã đem lại cho người Mông những kinh nghiệm và những cách lý giải khác nhau để có thể dựng được một thùng nước chàm thật biển quảng cáo tốt. Nếu thùng nước chàm được làm vào mùa hè, cần phải đổ thêm nước để chàm không bị nóng quá. Còn với mùa đông, người ta đốt một hòn đá nóng đỏ và bỏ vào thùng để giữ ấm cho chàm. Những kinh nghiệm đó tưởng như của một nền văn minh xa xưa, nhưng thực ra lại là thiên hướng của cuộc sống hiện đại, mà con người chúng ta phải hướng tới - xu hướng sống thân thiện với môi trường. Nếu vì một lý do nào đó thùng chàm không sống được, người Mông tự vấn phải chăng mình có nợ âm dương và vì lẽ đó, với tấm lòng thành họ thường đốt 3 nén hương cùng 3 mảnh giấy bản để mong tiên nhân giúp cho mình. Một số người khi đã núm nhưng vẫn không thể để cho thùng chàm sống được, lại cho rằng thùng chàm của mình đã bị mã tà ám, họ làm 12 thanh kiếm gỗ bôi than và xâu vào sợi cỏ tranh cuốn quanh miệng thùng rồi khấn đuổi ma tà... Chuẩn bị được thùng chàm rồi, muốn nhuộm được màu chàm đen như ý, thì trước khi nhuộm, bao giờ người Mông cũng nhúng vải qua nước lạnh cho vải ngấm đều, rồi mới nhúng vào thùng nước chàm. Mảnh vải được nhuộm đi nhuộm lại nhiều lần, trong nhiều ngày. Người Mông thường ngâm vải trong dung dịch chàm chừng một giờ đồng hồ, sau đó mới vớt ra để ráo nước rồi lại ngâm tiếp. Quy trình đó được lặp đi lặp lại cho đến khi đạt được màu mong muốn mới đem vải đi phơi. Thời gian ngâm cho vải lên nước đen bóng phụ thuộc nhiều vào thời tiết. Gặp kỳ nắng ráo, mỗi mảnh vải chỉ cần 3 - 4 ngày là có thể nhuộm xong. Nhưng nếu trời mưa, vải phơi lâu khô, khoảng thời gian đó có khi kéo dài tới hàng tháng. Chính vì được nhuộm kỹ như thế mà màu chàm của người Mông luôn tạo ra một cảm giác tươi mới, rất hút người nhìn... D.H
Di chúc của chủ toạ Hồ Chí Minh: Những giá trị lý luận và thực tiễn
Điều Hồ Chí Minh quan hoài đầu tiên là về Đảng. Nói về Đảng, Bác nhấn mạnh đến lý tưởng cách mạng “một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ quần chúng. #, Phục vụ giang san” của Đảng, về truyền thống cực kỳ quý báu và cũng là quy luật trưởng thành của Đảng là sự đoàn kết, đồng tình cần phải được gìn giữ như đối với “con ngươi của mắt mình”, về nguyên tắc “thực hành dân chủ rộng rãi, bộc trực tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự kết đoàn và hợp nhất của Đảng”, về “tình đồng chí yêu thương lẫn nhau” trong Đảng và sự trau dồi phẩm chất đạo đức “thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” của mỗi đảng viên, cán bộ. Trong bản viết bổ sung tháng 5-1968 Người còn nói thêm, ngay sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quần chúng. # Ta đã hoàn toàn thắng lợi thì việc “cần phải làm trước nhất là chấn chỉnh lại Đảng”. Di chúc Hồ Chí Minh thấm đẫm tính nhân bản. Đọc chúc thư chúng ta thấy Bác dành tình cảm thương tình đối với vơ mọi từng lớp người trong xã hội, từ những người có công trong kháng chiến như liệt sĩ, thương binh, thân nhân liệt sĩ, thanh niên xung phong, phụ nữ, quần chúng. # Cần lao, đến những người vốn là nạn nhân của tầng lớp cũ như đánh cắp, lẳng lơ, bài bạc, buôn lậu,... Bác yêu cầu Đảng và Chính phủ vừa “phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của dân chúng” nói chung, vừa có sự quan tâm cụ thể, thiết thực với từng đối tượng. Nhưng không chỉ quan hoài một chiều mà điều cấp thiết nhất là phải làm sao giáo dục bồi dưỡng, nâng con người lên, khuyến khích mỗi người “tự lực cánh sinh” cùng chung tay vào sự nghiệp xây dựng một xã hội mới “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Ngày 16-2-1969 (mồng 1 Tết Kỷ Dậu), Bác Hồ trồng cây ở xã Vật read more Lại, H. Ba Vì, tỉnh Hà Tây cũ (nay là Hà Nội). Trong chúc thư, chủ toạ Hồ Chí Minh chỉ ra nhiều vấn đề then chốt thuộc về phương hướng xây dựng đất nước sau khi đã hòa bình độc lập. Đó là hàn gắn vết thương chiến tranh; xây dựng lại tỉnh thành và làng mạc; khôi phục và mở mang các ngành nghề kinh tế; phát triển công tác vệ sinh y tế; sửa đổi chế độ giáo dục cho ăn nhập với cảnh ngộ mới... Đó là những công việc to lớn, nặng nề, phức tạp, nhưng Người tin rằng, nếu Đảng và Chính phủ biết động viên, tổ chức và giáo dục được toàn dân, biết dựa vào sức mạnh vĩ đại của toàn dân thì sẽ giành được chiến thắng. Là một đội viên quốc tế lỗi lạc, Người không quên để lại những dòng kiêu hãnh và trăn trở của mình đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, bởi từ những năm 1960 trong nội bộ phong trào này đã có sự nứt rạn. Hồ Chí Minh không khỏi “đau lòng” về sự bất hòa giữa các đảng anh em, nhất là giữa hai nước lớn Liên Xô và Trung Quốc. Trong chúc thư, Người nói rõ mong muốn của mình là “Đảng ta sẽ ra công hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em”. Và theo Người, chỉ có “trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình” mới có thể khôi phục được tình kết đoàn vô sản đó. Thực hành chúc thư của Bác, Đảng ta và quần chúng ta đã giành được nhiều chiến thắng quang vinh: đánh cho Mỹ cút (1973), đánh cho ngụy nhào, phóng thích hoàn toàn miền Nam (1975). Tuy nhiên, vẫn có những lúc do chưa quán triệt đầy đủ những lời dặn dò của Bác nên công cuộc xây dựng đất nước của chúng ta sau năm 1975 đã trải qua rất nhiều khó khăn. Tuy công cuộc Đổi mới toàn diện, đồng bộ, triệt để, có bước click here đi và cách làm hạp của Đảng mở ra từ Đại hội VI đến nay đã đạt được những thành quả to lớn và có ý nghĩa lịch sử, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng không ngừng được nâng cao, nhưng cho đến nay vẫn còn những vấn đề cần phải được giải quyết. Như Đại hội Đại biểu lần thứ XI của Đảng đã chỉ ra, đó là: kinh tế phát triển chưa vững bền, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh thấp, chưa tương thích với tiềm năng, thời cơ và yêu cầu phát triển của tổ quốc; các lĩnh vực giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng đề nghị phát triển; lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại còn một số mặt hạn chế; quyền làm chủ của quần chúng. # Ở một số nơi, trên một đôi lĩnh vực còn bị vi phạm; xây dựng quốc gia pháp quyền XHCN chưa theo kịp đề nghị phát triển kinh tế và quản lý sơn hà; công tác xây dựng Đảng vẫn còn những yếu kém, chậm được khắc phục. Đứng trước những vấn đề như vậy, đọc chúc thư chúng ta tiếp chuyện rút ra được nhiều vấn đề lý luận và thực tại từ những lời dạy thiết thực của Bác. Theo chúng tôi, cần giao hội vào một số vấn đề sau đây: - Một là, phải tiếp đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngang tầm nhiệm vụ, đích thực xem đây là nhiệm vụ mấu chốt. Cần tập hợp cao độ để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt 3 vấn đề thúc bách về xây dựng Đảng mà Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) đã đề ra: cương quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước tiên là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Xác định rõ thẩm quyền, bổn phận người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị; nối đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Trong 3 vấn đề đó, vấn đề thứ nhất là trung tâm, xuyên suốt và cần kíp nhất. - Hai là, phải có những định hướng quan yếu đưa giang sơn bứt phá đi lên để Việt Nam nhanh chóng trở nên một nước công nghiệp phát triển bền vững, nhân bản. Kinh tế tăng trưởng phải luôn gắn liền với việc thực hiện các chính sách tham khảo tầng lớp, đảm bảo cho mọi thành phần trong xã hội đều được phát huy khả năng, được hưởng thụ các thành quả cần lao của mình, cũng như sự quan tâm của cả từng lớp đối với những đối tượng chính sách. Bảo đảm cung ứng dịch vụ công cần yếu, bình đẳng cho mọi người dân và chú trọng các chính sách ưu đãi xã hội. Trên cơ sở không ngừng nâng cao dân trí, chăm lo dân sinh, phát huy dân chủ để kết nối quyền và năng lực làm chủ của quần chúng. # Ngày một tốt hơn. - Ba là, không ngừng chăm lo củng cố và phát huy sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân, đích thực xem đại kết đoàn toàn dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, là động lực cốt yếu và là nhân tố quyết định thắng lợi vững bền của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng để cố kết toàn dân tộc. Mọi đường lối, chính sách của Đảng phải thể hiện ý chí, ước muốn và quyền lợi của nhân dân, được đông đảo dân chúng tham dự đàm đạo và thực hành. Có như thế mới huy động được sức mạnh toàn dân vào sự nghiệp cách mệnh. - Bốn là, ngày nay bối cảnh quốc tế đã khác trước rất nhiều, quan hệ giữa các nhà nước đang diễn ra trong quá trình kết liên vừa cộng tác vừa đấu tranh, đòi hỏi chúng ta phải quán triệt những lời dặn dò của chủ toạ Hồ Chí Minh là giải quyết mọi vấn đề một cách “có lý, có tình”: Giữ vững nguyên tắc song song phải linh hoạt, năng động, sáng tạo hợp với vị trí, điều kiện, cảnh ngộ cụ thể của nước ta và tình hình khu vực, thế giới ăn nhập với từng đối tác mà ta có quan hệ. Gìn giữ và tăng cường mối quan hệ hiệp tác hữu nghị truyền thống với các đảng cộng sản và phong trào công nhân quốc tế, với quần chúng các nước đã ủng hộ chúng ta trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm để trình diễn.# Sự xử sự nghĩa tình thủy chung với bạn bè quốc tế trong tuổi lịch sử mới. Đồng thời đẩy mạnh đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại với mọi nhà nước và vùng bờ cõi trên thế giới, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển. PGS - TS Ngô Văn Minh
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)