Thứ Sáu, 4 tháng 4, 2014
Trung Quốc và Ấn Độ đang làm các hộ gia đình Mỹ nghèo đi?
Có thể Tồng thống Mỹ Barack Obama đã đúng khi cho rằng tự do thương nghiệp là một chiến lược chắc chắn mang lại thắng lợi bởi giúp hàng hóa tiêu dùng rẻ hơn và tạo ra nhiều công ăn việc làm trong ngành xuất khẩu. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, thương nghiệp tự do lại khiến người lao động Mỹ trong cả lĩnh vực sản xuất và tiêu dùng phải trả giá đắt, đặc biệt là những người thiếu trình độ và kỹ năng để thích nghi. Branko Milanovic, người từng là một chuyên gia kinh tế cao cấp của World Bank, đã theo dõi số liệu về tăng trưởng thu nhập trong thời đoạn 1998 – 2008 của các nước trên khắp thế giới. Theo tâm tính của ông, trong khi xã hội trung lưu của Trung Quốc và Ấn Độ có thu nhập tăng trưởng tới 70%, thu nhập của người cần lao Mỹ hầu như thường thay đổi. Milanovic không đưa ra mối quan hệ trực tiếp để đi đến kết luận tăng trưởng ở Trung Quốc và Ấn Độ làm tổn hại người cần lao ở các nước phát triển (đặc biệt là Mỹ). Tuy nhiên, nghiên cứu của ông khẳng định hai bên “không phải là không có liên quan”. Khi được hỏi liệu đà tăng trưởng mạnh mẽ của Trung Quốc và Ấn Độ có ảnh hưởng đến các hộ gia đình Mỹ, Jagdish Bhagwati – giáo sư kinh tế đến từ Columbia và cũng là chuyên gia về thương nghiệp quốc tế - đưa ra hai khía cạnh. Thứ nhất, tiến bộ công nghệ đang khiến lương giảm xuống. Thu nhập của người lao động chịu áp lực từ việc công nghệ liên tục biến đổi và khiến nhu cầu nhân công càng ngày càng giảm. Thứ hai, người tiêu dùng Mỹ vẫn được hưởng lợi từ thương nghiệp quốc tế. Hoạt động thương nghiệp với các nước nghèo hơn giúp giảm bớt sức ép lên tiền lương bởi thay vì tấm phải mua đồ lót đắt tiền từ Victoria’s Secret, người cần lao có thể mua loại rẻ hơn ở các cửa hàng Macy’s. Cùng bàn cãi về chủ đề này, ba nhà kinh tế học David Autor (MIT), David Dorn (Trung tâm nghiên cứu tiền tệ và tài chính tại Tây Ban Nha) và Gordon Hanson (ĐH California) đã phân tích ảnh hưởng của hoạt động thương nghiệp toàn cầu và tiến bộ công nghệ đối với thị trường cần lao Mỹ. Trong các công trình nghiên cứu của mình, họ tìm ra rằng trong trường hợp thương nghiệp với Trung Quốc, người lao động Mỹ phải chịu khá nhiều hệ quả “đau đớn” tùy theo từng loại. Đối với người có thu nhập trung bình làm việc trong lĩnh vực sản xuất hoặc những ngành phải cạnh tranh gay gắt với hàng du nhập không chỉ có thu nhập giảm xuống mà còn đối mặt với nguy cơ bị loại khỏi lực lượng lao động và phải nhận trợ cấp. Rủi ro còn gia tăng sau khi Trung nhà nước nhập WTO năm 2001. Ba người tính mỗi công nhân Mỹ mất khoảng 1.000 USD thu nhập trong thời kỳ 10 năm 1998 – 2008, khi nhập cảng từ Trung Quốc tăng lên. Con số còn lớn hơn đối với những người không có bằng đại học. Thiên hướng tỷ lệ thất nghiệp tăng lên do giao thương với Trung Quốc đặc biệt rõ rệt ở các bang tụ họp vào những ngành cần nhiều cần lao như sinh sản đồ gỗ, đồ chơi, dệt may, giày dép và đồ da. Đó là các bang Tennessee, Missouri, Arkansas, Missisippi, Alabam, Georgia, Bắc Carolina và Indiana. Trong khi đó, một nhóm các nhà kinh tế học khác bao gồm Avraham Ebenstein (ĐH Hebrew), Magaret McMillan (Tufts), Ann Harrison (Wharton School) và Shannon Phillips (ĐH Boston) cũng tìm ra những tác động thụ động đối với người lao động Mỹ khi Mỹ giao thương với nước có thu nhập thấp. Trong nghiên cứu có tiêu đề “Tại sao người lao động Mỹ càng ngày càng nghèo đi”, bốn nhà kinh tế học cho rằng “chuyển hoạt động sản xuất sang các nước có lao động giá rẻ có can dự đến việc lương của người cần lao Mỹ bị giảm. Theo ước lượng, toàn cầu hóa khiến mức lương thực tại giảm 12 – 17%. Trong một nghiên cứu độc lập khác, Ebenstein, McMillan, Yaohui Zhao và Chanchuan Zhang (đến từ ĐH Bắc Kinh) cho rằng ngành nào của Trung Quốc có việc làm tăng trưởng mạnh nhất thì ở Mỹ ngành đó sẽ có tỷ lệ thất nghiệp tăng mạnh nhất. Câu hỏi tiếp theo là liệu có phải những ảnh hưởng đối với các nước phát triển là điều không thể tránh khỏi trong quá trình toàn cầu hóa. Và, liệu những ảnh hưởng tiêu cực có lấn át những ích hăng hái hay không? Ellen Frost – người từng làm cố vấn cho đại diện thương mại Mỹ từ năm 1993 đến 1999 – đặt ra một câu hỏi ngược để giải đáp cho câu hỏi này. Liệu đóng cửa biên thuỳ và không giao thương với bên ngoài có thể ngăn được việc làm trong khu vực sản xuất sụt giảm? Giống như Bhagwati, ông cũng đề cập đến những ích mà người tiêu dùng Mỹ được hưởng, như cạnh tranh buộc các công ty ô tô trong nước phải để ý nâng cao chất lượng sản phẩm. Những người ủng hộ thương nghiệp tự do lập luận rằng rứa tác động vào những hiệu ứng mà hoạt động thương mại mang đến có thể khiến một nhà nước phải trả giá đắt. Quan điểm này được Gary Clyde Hufbauer và Sean Lowry (đều đến từ Viện kinh tế quốc tế Peterson) đưa ra trong nghiên cứu về chính sách thuế đánh vào lốp xe nhập khẩu từ Trung Quốc. Quyết định hạn chế nhập khẩu lốp từ Trung Quốc của chính quyền Tổng thống Obama đã giúp cứu vãn 1.200 việc làm cho người Mỹ. Tuy nhiên, người tiêu dùng Mỹ lại phải mua lốp xe với giá cao hơn (tốn thêm 1,1 tỷ USD trong năm 2011). Thêm vào đó, các công ty sinh sản lốp mới là bên hưởng lợi nhiều nhất. Trong bài luận đăng trên Project Syndicate hôm 4/3, nhà kinh tế học Kenneth Rogoff đến từ ĐH Harvard đưa ra một câu hỏi đánh trúng vào thương mại quốc tế hiện: “Liệu thế hệ tiếp theo có thể tiếp chuyện được hưởng cuộc sống tốt đẹp hơn đời trước đó? Ở các nước đang phát triển, câu đáp kiên cố là có. Ở các nước phát triển, câu đáp vẫn có thể là có, nhưng những thách thức đang trở thành rõ ràng hơn bao giờ hết”. Người cần lao Mỹ vững chắc sẽ tán đồng với vế sau của câu giải đáp mà Rogoff đã đưa ra. Thu Hương Theo Trí Thức Trẻ/New York Times
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét