Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014
C-store, “kẻ thời cơ lì lợm”
Kỳ 1: “Kẻ cơ hội” nhạy bén Từ một ý tưởng “ngẫu hứng”, C-store đã trở thành một mô hình đột phá trong ngành kỹ nghệ bán buôn nhờ vào chính sự tiện lợi mà nó đem tới cho khách hàng. Ra đời Tháng 5/1927, cửa hàng “bán nhanh” đầu tiên của công ty Southland Ice, chuyên dự trữ và cung cấp đá lạnh, “bất chợt” trên góc phố 12 đường Edgefield, Dallas, Texas (Mỹ), đánh dấu sự ra đời trước tiên của mô hình cửa hàng thuận tiện trên thế giới. Tote'm, mô hình nguyên sơ của cửa hàng thuận lợi. Ông Jefferson Green, viên chức của Southland Ice, người đưa ra ý tưởng về cửa hàng này, đã triển khai bán thêm bánh mì, sữa và trứng sau khi nhận ra rất nhiều khách hàng của mình không thể mua được chúng khi các cửa hàng tạp hóa đóng cửa. Với lợi thế phục vụ 16 giờ/ngày và 7 ngày/tuần, mô hình này đã chóng vánh được khách hàng đón nhận. Joseph C.Thompson, người sáng lập kiêm chủ tịch của tập đoàn Southland Ice đã nhận ra tiềm năng từ việc bán các mặt hàng cần yếu này và triển khai tới các cửa hàng khác trong công ty, đồng thời đổi tên chúng thành “Tote’m”. Khi những cửa hàng “thuận lợi” còn chưa được ai biết đến tại Mỹ, rất nhiều mô hình tương tự khác đã nổi lên như “midget” của những năm 1920, “motorterias” hay các cửa hàng “bán nhanh” tự động. Năm 1929 là thời gian hoàng kim của các cửa hàng “Bantamas” và “drive-in” - nơi khách hàng có thể tài xế vào và mua sắm ngay trên ô tô của mình. Tại đây, loại máy bán hàng tự động “Delmat” của họ đốn cung cấp sữa, trứng, các sản phẩm từ thịt. Các hiệp tác xã chăn nuôi sữa bò cũng áp dụng mô hình này để mở các “dairy stores” hay “jug stores” để bán sữa. Sau Thế chiến thứ II, các cửa hàng thuận tiện bắt đầu thu lợi nhuận. Năm 1957, lần trước hết mực “cửa hàng thuận lợi” được sử dụng ở Washington, DC và ở Denver, Colorado. Năm 1962, C-store trước tiên phục vụ 24/24 giờ đã ra đời tại Las vegas, bang Nevada, Mỹ. Trước sự cạnh tranh ghét của các C-store, các siêu thị buộc phải mở thêm chi nhánh ở ngoại ô để phục vụ những khách hàng chẳng thể tới thị thành để mua trứng, sữa. Cai trị trong từng “ngóc ngách” Năm 1950, chiến tranh chấm dứt và nhu cầu tiêu dùng của khách hàng cũng gia tăng. Ngành công nghiệp ô tô Mỹ trở nên phát triển cực thịnh. “Giấc mơ Mỹ” với những chiếc ô tô lớn, những con đường rộng, đã khiến người dân thị thành buộc phải ra ngoại thành sinh sống. C-store mở mang quy mô nhằm cuộn khách hàng. Tại thời điểm đó, khu vực ngoại ô còn khá lác đác nhưng những cư dân tại đây lại có nguồn tài chính rất dồi dào và thường có hai ô tô. Do cả vợ và chồng đều đi làm nên làm giảm đáng kể thời kì đi mua sắm của mỗi gia đình. Nắm bắt được “tiềm năng” đó, các C-store thường mở chi nhánh ở những khu vực có vị trí thuận lợi, có thể đỗ xe trước cửa để khách hàng vừa có thể mua sắm thoải mái mà vẫn có thể theo dõi lũ trẻ trong ô tô. Ngoài những vùng ngoại ô lớn, các C-store còn khai khẩn triệt để tiềm năng của những vùng dân cư mới, thị trấn nhỏ mà những siêu thị chẳng thể “len lách” tới. Với chiến thuật này, những “kẻ cơ hội” đã chớp được nhịp, len lỏi và chiếm lĩnh thị trường mỡ màu đang bị bỏ ngỏ. Các C-store ở ngoại thành có mặt tiền rất rộng. Trong khi các C-store tung ra chiến lược “thuận tiện hóa” việc mua sắm thì các cửa hàng, siêu thị lại sử dụng chiến lược mở rộng cửa hàng. Những siêu thị rộng cỡ 3.000 m2 - 5.000 m2 khiến khách hàng cảm thấy vô cùng khó nhọc khi mua sắm. Họ dần “lãng quên” những cửa hàng này và ưa chuộng C-store. Không chỉ tập hợp bán các mặt hàng cần yếu, các C-store tầng và khai hoang những sản phẩm có thể mang lại nhiều doanh thu. Khi ngành công nghiệp ô tô bùng nổ đẩy giá xăng tăng đột biến, các C-store đã triển khai cung cấp xăng dầu. Họ thí điểm đặt những cột xăng nhỏ phía trước cửa hàng. Sự thuận tiện của chúng được khách hàng đón nhận và được mau chóng nhân rộng ra các chi nhánh khác. Với quy mô rộng khắp, số lượng của các C-store có bán xăng đã áp đảo đối thủ và khiến các trạm xăng truyền thống giảm đáng kể. Kể từ đây, vai trò cung cấp xăng tại Mỹ dần chuyển sang các C-store. Nhằm mở rộng mạng lưới, các C-store đã dùng phương thức nhượng quyền thương hiệu để huy động vốn mở cửa hàng mới. Với số tiền thu được, họ xâm lấn sang khu vực Bắc Mỹ và tiếp chuyện tăng trưởng bằng các hình thức sáp nhập, thu mua và mở cửa hàng mới. Tận dụng điểm yếu của các đối thủ cạnh tranh như siêu thị, cửa hàng tạp hóa nhỏ, cửa hàng thuốc, chuỗi bán thức ăn nhanh tự động và các trạm xăng, các C-store liên tiếp làm mới mình và lấn áp đối thủ. Huyền Trang Đón đọc kỳ cuối: “Lì đòn” vượt qua khủng hoảng
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét