Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2014
Huyền thoại Bồng Lai tự
Bà chủ chùa kiêu dũng Bồng Lai tự được xây dựng khoảng 1945, chênh lệch với thời gian hình thành chùa Vân Long (di tích lịch sử-cách mạng tại vồ Mồ Côi, núi Cô Tô) không xa. Hồi ấy, ngôi chùa cất bằng cây và lợp lá, do vị thầy quê quán từ ngọn Mặc Cần Dưng (xã Bình Hòa, huyện Châu Thành) lên đây dựng lên và ở nhìn nhang khói. Bà Trần Thị Luận (thương binh ¾, ngụ trên núi Cô Tô) kể, dù rằng mưa bom đạn pháo dữ dội và bị giặc đốt phá nhiều lần, nhưng ngôi chùa vẫn được tu tạo và giữ giàng bàn độc Tam Bảo tôn nghiêm. “Thầy mười Khối là chủ chùa đời thứ hai, thứ ba… gì đó. Rồi, ông bệnh chết thật, mới tới bà bảy Ân quê ở Châu Thành đứng ra ngóng. Suốt thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, một mình bà lo trong, lo ngoài Bồng Lai tự” – bà Luận nhớ lại. Nguyễn Văn Mộng tìm được củ ngải tượng hiếm thấy trên núi Cô Tô. Thời kỳ đánh nhau khốc liệt, nói tới vách hoàng tuyền (núi Cô Tô) thì từ người dân đến du kích, bộ đội, cán bộ… đều sợ. Thế mà, bà bảy Ân “một mình” bám trụ ngôi chùa, vững chãi với sự khốc liệt ở chốn non cao! Nhắc lại kỷ niệm xưa, ông Đặng Văn Xuân (thương binh ¾, xã Núi Tô) còn nhớ cảnh Bồng Lai tự và hình ảnh bà bảy Ân như vừa mới gặp. “Tôi không nằm chung… đường dây này, nhưng biết Bồng Lai tự là hậu phương… tại chiến trận vách cửu tuyền. Do đây là chỗ anh em mình giao thông, đôi khi nghỉ tạm chờ chuyển tiếp, sau những trận đánh nhừ tử thì mọi người lại tụ hội về chùa…” – ông Xuân trầm mặc. Bấy giờ, núi Cô Tô đâu có mấy ngôi chùa, hễ “mốc nối” được là quý lắm, vừa có chỗ nơi ẩn nấp, vừa đảm bảo cho quá trình tàng trữ lương thực, thực phẩm, thuốc thang và hậu cần các thứ. Đại tá Lê Thành Cư – Anh hùng lực lượng vũ trang dân chúng (cán bộ hưu trí xã An Tức) cho hay, trong những năm chiến tranh chống Mỹ cứu nước, mỗi khi nhắc tới Bồng Lai tự (núi Cô Tô) thì hồ hết cán bộ đều biết, nhất là Huyện ủy Tri Tôn lại càng thân thuộc. Bởi, vị thế ngôi chùa độc đáo ở chỗ, mặt tiền ngó về đồng bằng, còn sau hậu lại tựa lưng vào vách núi. Nhờ vậy, tầm quan sát địa hình rất rộng, cơ sở hoạt động thuận tiện và tương đối an toàn. “Thời kỳ đó, Bồng Lai tự được tổ chức đánh giá rất cao, xem như một cơ sở bán công khai. Anh em khắp nơi cứ giao hội về đây, cơm cháo có một tay bà bảy Ân lo hết” – Đại tá Lê Thành Cư nói. Ai cũng quý mến bà, Nhà nước ghi nhận công lao bà trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, với tấm Huy chương hạng nhất và Huân chương hạng nhì. Lá rụng … về cội Bà bảy Ân (Lê Thị Ân) từ trần cách nay trên 20 năm, Bồng Lai tự tận được thế gian tôn kính như thuở nào, vấn người hành hương và du khách từ khắp nơi viếng núi Cô Tô. Nhiều chuyện kể về bà y sì huyền thoại ở chốn non cao. Bà Lê Thị Út (vợ liệt sĩ Nguyễn Văn Liêm, hy sinh năm 1964) hiện ngụ chợ Bình Hòa (Châu Thành) hồi ức: “Nhờ bà bảy Ân, mà ba đứa con của tui còn sống nguyện vẹn đến giờ này. Trong đó, thằng thứ tư là Nguyễn Văn Mộng bị lính Mỹ bắt, rồi đưa đi cô nhi viện ở Cù Lao Giêng cho đến 30-4-1975 mới được đoàn tụ”. Sự việc xảy ra lâu lắm, nhưng đối với bà không bao giờ nén được vết thương lòng! Trùng tu Bồng Lai tự. Đó là đầu mùa mưa 1960, vào một sáng tinh sương, Nguyễn Văn Liêm và Lê Thị Út từ lò ảng bò ra và gởi 3 đứa con cho bà bảy Ân. Vợ chồng tức khắc lội qua Ô Lâm gánh gạo, muối về phục vụ quân nhân huyện Bảy Núi. Khi nắng lên chưa ráo ngọn cỏ, bọn lính từ Xà Tón đột ngột đổ bộ lên càn quét, đốt phá Bồng Lai tự hòng tìm ra… tên Việt cộng Nguyễn Văn Liêm. Trước tình thế nguy ngập, bà bảy Ân chỉ kịp bồng hai đứa lớn chui vào lò ảng tháo thân, bỏ lại Nguyễn Văn Mộng (mới biết đi chập chững) và cứ tưởng sẽ… không đến nỗi! ngờ đâu, sau mấy tiếng đồng hồ sục sạo, bọn lính ẵm thằng bé về luôn chợ Xà Tón. “Tới nửa đêm, vợ chồng mới dám về chùa và biết được thằng Mộng bị lính bắt. Tui với ổng đâu dám ra mặt nhìn con. Bấm bụng chịu đựng!” – bà Út nói mà như đang khóc. Một ngày, hai ngày, rồi lại đến ngày thứ ba chẳng thấy ai đến nhìn con, bọn chúng liền đưa Nguyễn Văn Mộng về dòng tu Chúa Quan Phòng (Cù Lao Giêng)”. Bà Trần Thị Luận (thương binh ¾, ngụ trên núi Cô Tô) cho biết, hồi đó ở chợ Xà Tón này có bảo sanh Hứa có người em đi tu bên Cù Lao Giêng, thấy vậy chòm xóm xúm nhau nói tiếp và nhờ… tìm lại đứa bé. Thương, bà ấy nhận lời và chỉ được sang nhìn lén, tìm cách “bấm tai” làm dấu. Năm tháng trôi qua, Nguyễn Văn Mộng đi khắp các dòng tu ở Sài Gòn, Long Thành, Vũng Tàu và ra tận Đà Nẵng. “Ngày 30-4-1975 sắp kề cận, thằng Mộng cũng chuẩn bị xuống tàu sang Mỹ. Một lần nữa, bảo sanh Hứa ở chợ Xà Tón lại giúp đưa nó trở về với tui…” - bà Út xúc động. Do chiến tranh khiến tuổi thơ Nguyễn Văn Mộng xiêu dạt, khi lớn lên lại dập dềnh theo con nước lớn ròng, rốt cuộc rồi cũng “trụ hình” bên cạnh Bồng Lai tự, cùng vợ mua bán nhỏ và canh tác cả chục công vườn rừng. Tết này, Nguyễn Văn Mộng được 55 tuổi, thế cuộc anh lắm gian truân giống như huyền thoại Bồng Lai tự trên đỉnh núi Cô Tô. “Bấy giờ, núi Cô Tô đâu có mấy ngôi chùa, hễ “mốc nối” được là quý lắm, vừa có chỗ nơi ẩn núp, vừa bảo đảm cho quá trình tích trữ lương thực, thực phẩm, thuốc thang và hậu cần các thứ” – ông Đặng Văn Xuân, thương binh ¾, cán bộ hưu trí xã Núi Tô nói .
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét